Hơn 30 năm sau chiến tranh, vẫn chưa có tác phẩm văn học xứng đáng với tầm vóc cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của dân tộc ta. Ðể có những sáng tác xuất sắc về chiến tranh, không chỉ là khát vọng của giới cầm bút mà còn là mong muốn của công chúng. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 62 Ngày thành lập QÐND Việt Nam 22/12/1946 - 22/12/2006, xin giới thiệu bài viết "Ðể có tác phẩm lớn về chiến tranh" của đại tá - nhà văn Sương Nguyệt Minh, Trưởng ban Văn xuôi Tạp chí Văn nghệ Quân đội.Thành tựu văn học chiến tranh không nhỏKhát vọng viết hay, sinh thành tác phẩm xuất sắc, đồ sộ về chiến tranh và người lính bao giờ cũng là khát vọng cháy bỏng của các nhà văn quân đội và cả những cây bút chưa từng mặc áo lính. Không dám mơ đến bộ sử thi vĩ đại "Chiến tranh và hoà bình" của L.Tônxtôi, chỉ cần có một tiểu thuyết cỡ "Sông Ðông êm đềm" của Sôlôkhốp mà vẫn chỉ là mơ ước của các nhà văn Việt Nam. Bao nhiêu người cầm súng, cầm bút ra chiến trường, đắm mình vào hiện thực khốc liệt mà vẫn chưa có tác phẩm xứng đáng với cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thần thánh của dân tộc. Vì sao? Viết về chiến tranh và người lính quá khó? Nhà văn bất tài? Hay còn điều gì ngoài văn chương?Công bằng mà nói, văn học chiến tranh cách mạng đã có những thành tựu nhất định, đáng nể phục, không thể phủ nhận. Có 4 thế hệ nhà văn, nhà thơ đã và đang viết về chiến tranh. Thế hệ thứ nhất, xuất hiện thời chống Pháp và sau hoà bình: Nguyễn Ðình Thi, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Mai Ninh, Thâm Tâm, Nguyễn Văn Bổng, Vũ Cao, Chính Hữu, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu... Thế hệ thứ hai, xuất hiện thời chống Mỹ ở khắp các chiến trường và hậu phương: Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Lê Lựu, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Văn Lê, Nguyễn Ðức Mậu, Vương Trọng, Lê Minh Khuê, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường... Thế hệ thứ ba, xuất hiện sau năm 1975 và thời kỳ đổi mới: Ðỗ Trung Lai, Trần Anh Thái, Nguyễn Hữu Quý, Hồng Thanh Quang, Bùi Thanh Minh, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Anh Nông, Sương Nguyệt Minh... Thế hệ thứ 4, trong giai đoạn hiện nay, đã xuất hiện những cây bút trẻ viết về chiến tranh như: Nguyễn Ðình Tú, Ðỗ Bích Thúy, Ðỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai...Rõ ràng đã xuất hiện nhiều thế hệ nhà văn viết kế tiếp nhau về chiến tranh. Ðội ngũ đông đảo và thành tựu văn chương không nhỏ. Hàng loạt tác phẩm ra đời trong khói lửa, máu, mồ hôi, nước mắt của dân tộc: "Xung kích", "Con trâu", "Ðất nước đứng lên", "Hòn đất", "Mẫn và tôi", "Vùng trời", "Bài ca chim Chơ rao", "Dấu chân người lính"... Sau năm 1975, có nhiều tác phẩm viết về chiến tranh được dư luận chú ý: Trường ca "Ðường tới thành phố", "Dấu chân qua trảng cỏ", "Trường ca sư đoàn", "Ðất nước hình tia chớp"... Các tiểu thuyết "Chim én bay", "Ðất trắng", "Trong cơn gió lốc", "Nắng đồng bằng", "Bến không chồng", "Nỗi buồn chiến tranh"... Gần đây, thực hiện dự án của Bộ Quốc phòng về viết sử thi chiến tranh cách mạng, nhiều tiểu thuyết dung lượng lớn, hoành tráng, phản ánh quy mô các trận đánh, các chiến dịch thắng lợi và cả thất bại, ra đời: "Khúc bi tráng cuối cùng", "Những bức tường lửa", "Xiêng Khoảng mù sương", "Thượng đức", "Ngày rất dài" ...Tiểu thuyết, trường ca và hàng vạn bài thơ, truyện ngắn, bút ký, ký sự chiến trường... hợp lại thành nền văn học chiến tranh. Do điều kiện khẩn trương, khốc liệt của chiến tranh, đáp ứng mục đích tuyên truyền, nên nhiều tác phẩm còn thô sơ, giản đơn. Các nhà văn, nhà thơ vừa cầm súng vừa cầm bút, nên chưa có điều kiện đầu tư công phu vào nghệ thuật. Có thể nói, âm hưởng ngợi ca là chủ yếu trong văn học chiến tranh. Cũng có một số tác phẩm viết về thất bại, về nỗi buồn, về thân phận người trong chiến tranh với những dằn vặt cá nhân, nhưng không nhiều. Cho đến nay, hầu như mọi người đều có chung nhận xét: Chưa có tác phẩm văn học xứng đáng với tầm vóc cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðể có tác phẩm lớn về chiến tranhLàm thế nào để có tác phẩm lớn về chiến tranh? Câu hỏi không dễ trả lời và trả lời biết bao nhiêu cho vừa. Có một thực tế đáng buồn nản là, các nhà văn xuất hiện và thành danh trong chiến tranh đến nay đều ở độ tuổi trên 60. Có nghĩa là bao nhiêu trí tuệ, tài năng, bao nhiêu sức lực, mồ hôi, nước mắt đều đã dàn lên trang viết. Chúng ta khao khát có tác phẩm hay về chiến tranh và chúng ta trông cậy ở đội ngũ này. Ðội ngũ này đang mòn đi do quy luật sinh học, do trí tuệ, cảm xúc tỉ lệ thuận với tuổi tác. Nếu như trong chiến đấu, điều kiện khốc liệt, khẩn trương, viết để nhằm mục đích tuyên truyền đầu tiên, chưa có tác phẩm hay là điều dễ thông cảm, chấp nhận. Thì, sau hoà bình đã hơn 30 năm, điều kiện khách quan ấy không còn, nhà văn có thể ngồi viết trong thanh bình với điều kiện tiếp cận đủ mọi thông tin, kiến thức văn học qua sách, qua interne vậy mà vẫn chưa có tác phẩm hay. Các nhà văn trẻ hiện nay có vẻ không mặn mà..., họ quan tâm đến hiện thực đời thường hơn.Có phải nhà văn chưa toàn tâm toàn ý cho sáng tạo văn chương? Những chuyện mưu sinh cơm, áo, gạo, tiền và ham muốn chính đáng được sống trong các căn hộ đắt tiền, khép kín, tiện nghi để bù lại các ngày tháng ăn đường, ngủ bụi, bom rơi mù trời, thì cũng không trách họ được. Có phải có một "vòng kim cô" vô hình bó buộc nhà văn, làm triệt tiêu khả năng sáng tạo? Không phải! Cái trần sáng tác của Nhà nước định ra rất cao, rất rộng, chỉ có những người thiếu bản lĩnh, hoặc bất tài mới "tự gọt chân cho vừa giầy", tự biên tập và đổ lỗi cho chế độ. Nếu nhà văn có tài, cứ viết đi, không in bây giờ thì 50 năm nữa để con cháu in, có sao đâu!Có lẽ chưa có tác phẩm xuất sắc về chiến tranh là bởi chưa có nhà văn thiên tài. Có tài năng cộng với tâm huyết sẽ ra tác phẩm lớn. Ðành phải chờ đợi và hy vọng. (Theo KTĐT) Nguồn: Tìm kiếm từ bộ nhớ- cache- của Google- theo đị chỉ sau: |